Phong trào thi đua chuyên đề "Duy trì sĩ số học sinh" năm học 2017-2018 của Nhà trường

SỞ GD&ĐT GIA LAI

TRƯỜNG THPT TRƯỜNG CHINH

 

Số:...../KH-THPTTC

 

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Chư Sê, ngày 03 tháng 11 năm 2017

 

 

KẾ HOẠCH

V/v hưởng ứng phong trào thi đua chuyên đề "Duy trì sĩ số học sinh"

năm học 2017 - 2018

 

Thực hiện kế hoạch số 1095/KH-SGDĐT ngày 29 tháng 6 năm 2017 của Sở Giáo dục và Đào tạo Gia Lai về việc tăng cường huy động học sinh đến trường, hạn chế tình trạng học sinh bỏ học năm học 2017-2018;

Căn cứ công văn số 1283/SGDĐT-GDTrH ngày 10/7/2017 của Sở GDĐT về việc điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung trong kế hoạch tăng cường huy động học sinh đến trường, hạn chế tình trạng học sinh bỏ học năm học 2017-2018;

Căn cứ công văn số 1975/SGDĐT-VP ngày 02/11/2017 của Sở GDĐT về việc phát động phong trào thi đua chuyên đề “Duy trì sĩ số học sinh” năm học 2017-2018;

Căn cứ thực trạng học sinh bỏ học qua các năm học trước, Trường THPT Trường Chinh phát động phong trào thi đua hưởng ứng chuyên đề "Duy trì sĩ số học sinh" năm học 2017 - 2018 trong đội ngũ GVCN của nhà trường như sau:

I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU

- Quán triệt quan điểm “Duy trì sĩ số học sinh” là trách nhiệm của CB-GV-NV-HS -CMHS và các lực lượng xã hội nhằm tích cực phòng chống học sinh cấp THPT bỏ học giữa chừng, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh.

- Nâng cao ý thức học tập trong nhân dân, cổ vũ phong trào toàn dân tham gia học tập, tiến tới mục tiêu xây dựng xã hội học tập, đề cao tinh thần hiếu học, gương vượt khó học tập, gia đình quan tâm, chăm lo việc học tập của con em.

- Giúp đỡ, động viên gia đình có hoàn cảnh khó khăn vượt khó, vươn lên trong học tập.

II. ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH NĂM HỌC 2017-2018

Trường THPT Trường Chinh chính thức đi vào hoạt động từ 01/7/2008. Đến nay là bước sang năm học thứ 10, nhà trường có đủ các tổ chức đoàn thể: Chi bộ Đảng, Công đoàn cơ sở, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Chữ thập đỏ, Hội Khuyến học, Ban đại diện CMHS. Trường có 08 tổ chuyên môn và 01 tổ văn phòng, tình hình đội ngũ cụ thể như sau:

- Về đội ngũ giáo viên:

Tình hình đội ngũ

Số lượng biên chế

Nữ

Dân tộc

Nữ

dân tộc

Trình độ

Cao học

CB-GV đi biệt phái

CB-GV hợp đồng ngắn hạn

1. Cán bộ quản lý

2

1

0

0

0

 

 

2. Giáo viên

52

36

2

2

6

0

2

Văn

7

6

0

0

3

0

0

Sử

2

2

0

0

0

0

0

Địa

2

2

0

0

0

0

 

Tiếng Anh

6

5

0

0

0

0

 

Thể dục

3

0

0

0

0

0

0

Toán

8

2

1

1

1

0

 

4

4

0

0

0

2

1

Hóa

4

2

0

0

1

0

1

Sinh

4

3

0

0

1

0

0

Công nghệ

2

1

0

0

0

0

0

Tin

6

4

1

1

0

0

0

GDQP

2

1

0

0

0

0

0

GDCD

2

2

0

0

0

0

0

3. Nhân viên

8

6

1

0

0

0

 

Tổng số

CB,GV, CNV

62

43

3

2

6

0

2

 

- Về học sinh:

 

 

Khối 10

 

Số lớp

Sĩ số

Nam

Nữ

DT

NDT

Hộ nghèo

Cận nghèo

Chính sách

khó khăn

9

372

185

187

91

59

14

19

1

37

Khối 11

10

378

206

172

75

51

4

4

0

27

Khối 12

5

214

101

113

35

27

6

12

3

17

Tổng

24

964

492

472

201

137

40

41

5

81

 

III. THỰC TRẠNG HỌC SINH BỎ HỌC NĂM HỌC 2016-2017

1. Đánh giá thực trạng tình hình học sinh bỏ học

Trong năm học 2016- 2017 toàn trường có 97 em học sinh bỏ học (chiếm tỉ lệ khoảng 11,6%); trong đó: có 38 học sinh đồng bào, 9 học sinh thuộc diện hộ nghèo, gia đình khó khăn, 44 học sinh vi lực học quá yếu về phụ giúp gia đình, 34 em không muốn đi học, 6 em nghỉ học vì đau ốm, 4 em nghi học vì lý do gia đình.

Cụ thể như sau:

Khối

Toàn trường

Trong đó

HS nghèo + GĐ KK

Tổng số

Nữ

Dân tộc

Nữ DT

10

72

32

25

14

4

11

17

39

5

6

3

12

8

3

8

3

2

Tổng

97

74

38

23

9

2. Nguyên nhân cơ bản học sinh bỏ học

- Đa số học sinh bỏ học là học sinh khối 10 không trúng tuyển tại trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm chuyển lên trường THPT Trường Chinh nên lực học yếu kém, không theo kịp chương trình. Một số học sinh do đi học xa lại học yếu nên bỏ học.

- Việc tuyển sinh vào 10 vừa phải đảm bảo số lượng, đảm bảo chỉ tiêu, đảm bảo quyền được đi học của học sinh, đảm bảo số lượng biên chế lớp học, biên chế giáo viên, ... dẫn đến học sinh được tuyển không có sự sàng lọc. Học sinh học hết lớp 9, hồ sơ đảm bảo theo quy định là hiển nhiên được tuyển vào 10; Học được vài tuần thấy năng lực không đảm bảo, bị áp lực của gia đình, của nhà trường là học sinh đó bỏ học.

- Học sinh dân tộc thiểu số tuyển mới hàng năm chiếm tỷ lệ gần 30%, đa phần các em là các học sinh yếu kém, hoàn cảnh gia đình khó khăn, nhiều em ở xa trường, phương tiện đi lại khó khăn.

- Việc phổ cập THCS và nhu cầu về điểm để tuyển sinh vào 10 có một thực trạng là điểm số trong học bạ của một số học sinh không đúng với năng lực thực sự của các em, dẫn đến hổng kiến thức cơ bản, thiếu phương pháp học, tạo tính ỷ lại, học không thực chất, không tiếp thu được kiến thức của cấp học cao hơn, dẫn đến bỏ học.

- Một số học sinh có ý thức không tốt, thường xuyên vi phạm nội quy trường lớp (đánh nhau, cúp tiết, không học bài, vi phạm ATGT…), nhà trường phối hợp với phụ huynh giáo dục nhưng không tiến bộ, dẫn đến bị các hình thức kỉ luật của nhà trường.

- Một thực tế xã hội hiện nay, nguồn nhân lực đào tạo đạt các trình độ cao đẳng, đại học, thạc sỹ rất nhiều nhưng không bố trí được việc làm dẫn đến trào lưu mới là một bộ phận học sinh tỏ ra thờ ơ, không quan tâm đến việc học, không có ý thức phấn đấu, vươn lên trong học tập và bỏ học, học nghề hoặc làm những việc khác miễn sao đáp ứng được thu nhập cá nhân.

- Với các cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”, học thật thi thật, .... Mặc dù nhà trường đã có rất nhiều giải pháp giúp đỡ các em học sinh yếu kém nhằm vươn lên trong học tập, tuy nhiên các em xác định với năng lực học của mình không đáp ứng được yêu cầu của các kì thi và kiểm tra do đó đã bỏ học.

- Là một huyện mà nhiều gia đình các học sinh sống chủ yếu bằng nghề nông. Tuy nhiên do tình hình hạn hán, nông sản mất mùa, giá cả cá mặt hàng nông sản như cà phê, cao su, hồ tiêu xuống thấp ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của người dân và do đó tác động không nhỏ đến việc học tập của con em trong huyện.

- Một số cha mẹ lơ là trong việc quản lý, đôn đốc, nhắc nhở con em mình trong vấn đề học tập, dẫn đến tình trạng học sinh đi theo các đối tượng xấu ngoài trường. Không ít học sinh chây lười việc học, không theo kịp chương trình, dẫn đến kết quả học tập kém. Một số học sinh do hoàn cảnh gia đình khó khăn (mồ côi cha/mẹ, cha, mẹ ly hôn, hộ nghèo…).

- Do địa bàn huyện rất rộng, có nhiều học sinh đến trường xa, nhất là các em học sinh dân tộc thiểu số và các học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Việc phải trả tiền cho xe đưa đón hàng tháng, tiền trọ học, không có người quản lý, ... gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc duy trì sĩ số.

- Năng lực chuyên môn, ý thức trách nhiệm của một bộ phận giáo viên, nhất là giáo viên chủ nhiệm chưa cao. Sự phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh trong việc giáo dục học sinh yếu kém, học sinh cá biệt còn hạn chế. Việc thực hiện phân loại học sinh trong lớp để lên kế hoạch bồi dưỡng, tổ chức phụ đạo, giúp đỡ học sinh yếu kém trong nhà trường hiện nay chưa thật tích cực. Trong khi, công việc này lại đòi hỏi nhiều công sức, sự kiên trì và tâm huyết của những người có liên quan.

IV. CHỈ TIÊU VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN DUY TRÌ SĨ SỐ HỌC SINH

1. Chỉ tiêu đăng kí

Theo tinh thần công văn số 1975/SGDĐT-VP ngày 02/11/2017 của Sở GDĐT về việc phát động phong trào thi đua chuyên đề “Duy trì sĩ số học sinh” năm học 2017-2018;Trường THPT Trường Chinh đăng kí tỉ lệ học sinh bỏ học dưới 1% trong năm học 2017- 2018.

2. Các giải pháp thực hiện

Với phương châm nguyên nhân nào thì giải pháp ấy, nhà trường kêu gọi các tổ chức, cá nhân trong và ngoài trường phải cùng có ý thức hợp tác, phối hợp đồng bộ trong các hoạt động bằng tất cả lòng yêu nghề, yêu công việc và tinh thần trách nhiệm, tận tâm tận lực với nghề và hết lòng với học sinh, cộng đồng trách nhiệm phát huy hết vai trò và trách nhiệm của mình nhằm hạn chế tối đa học sinh bỏ học:

2.1. Chi bộ nhà trường

- Chỉ đạo nhà trường thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 29-NQ/TW về “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”. Đưa nội dung các cuộc vận động “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, “Xây dựng trường học xanh - sạch - đẹp- an toàn”, “Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” thành hoạt động thường xuyên của mỗi tổ chuyên môn, mỗi cán bộ- giáo viên trong đơn vị.

- Chỉ đạo BGH tiếp tục thực hiện cuộc vận động “Mỗi cán bộ, giáo viên nhận đỡ đầu một học sinh có nguy cơ bỏ học vì đang gặp khó khăn trong học tập” theo tinh thần chỉ đạo tại Chỉ thị số 11/CT-UBND ngày 21/4/2016, căn cứ kết quả tiến bộ của học sinh cuối năm để xét thi đua đối với giáo viên.

2. 2. Bộ phận chuyên môn nhà trường

- Ngay từ đầu năm học, nhà trường tổ chức cho học sinh tham gia làm các bài thi khảo sát chất lượng. Từ đó, biên chế lớp học theo năng lực của học sinh. Lưu ý bố trí giáo viên có năng lực tốt, tinh thần trách nhiệm cao chủ nhiệm và dạy các lớp có lực học trung bình, yếu.

- Xây dựng chương trình và tổ chức dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh, chủ động rà soát, tinh giản nội dung dạy học phù hợp với chuẩn kiến thức, kỹ năng và thái độ của chương trình môn học;

- Tăng cường phụ đạo học sinh yếu kém, chống học sinh lưu ban, bỏ học; thường xuyên tổ chức các hội nghị chuyên đề, kịp thời bàn các giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học, quản lý chất lượng giờ dạy, động viên học sinh đến lớp,…, chú ý học sinh có nguy cơ bỏ học, phân tích nguyên nhân để có giải pháp duy trì sĩ số trong nhà trường hiệu quả.

- Tổ chức dạy thêm trong nhà trường nhằm củng cố, khắc sâu kiến thức cho học sinh yếu; ôn thi tốt nghiệp cho học sinh 12. Vận động giáo viên dạy thêmkhông thu đối với những học sinh thuộc diện hộ nghèo (có giấy chứng nhận hộ nghèo); gia đình thuộc diện chính sách được hưởng hỗ trợ của nhà nước. Gia đình có hoàn cảnh khó khăn sống thuộc xã đặc biệt khó khăn: Ayun, Hbông, Kông htôk và các thôn đặc biệt khó khăn theo quy định của chính phủ, học sinh mồ côi cả cha lẫn mẹ. Giảm 50 % tiền học thêm đối với học sinh là người dân tộc thiểu số gia đình có hoàn cảnh khó khăn (có xác nhận của thôn, xã nơi cư trú); hộ cận nghèo (có tên trong danh sách của UBND xã nơi cư trú);

- Tăng cường tổ chức các hoạt động giáo dục tập thể như hoạt động ngoài giờ lên lớp, ngoại khóa giúp các em hăng hái hơn trong sinh hoạt và học tập, làm cho học sinh cảm nhận được mỗi ngày đến trường là một ngày vui và ham thích đến trường.

2.3. Công tác chủ nhiệm lớp

Công tác chủ nhiệm lớp chính là những giải pháp có tầm quan trọng lớn và hiệu quả nhất nhằm ngăn ngừa học sinh bỏ học, góp phần duy trì sĩ số của học sinh. Vì vậy, đội ngũ GVCN thực hiện các giải pháp sau:

- Thể hiện sự quan tâm, gần gũi và nghiệp vụ sư phạm của mỗi thầy cô; sớm nắm bắt được tinh thần thái độ học tập cũng như hoàn cảnh gia đình học sinh, từ đó có biện pháp giúp đỡ thiết thực ngay từ đầu năm học đối với những học sinh yếu kém. Tìm hiểu nguyên nhân, phân loại các dạng học sinh có nguy cơ bỏ học, chẳng hạn các lý do: Vì hoàn cảnh gia đình, vì kinh tế, vì học tập yếu, vì ham chơi, vì thiếu sự quan tâm của gia đình,…. từ đó có các giải pháp cụ thể đối với từng học sinh.

- Tôn trọng, gần gũi, ân cần, bao dung với thái độ nhẹ nhàng nhưng nghiêm khắc trong việc giáo dục các em. Không được sử dụng những lời lẽ nặng lời để phê phán, xúc phạm học sinh khi các em mắc lỗi, dễ dẫn đến tác động tiêu cực, học sinh tự ái bỏ học.

- Phối hợp với GVBM theo dõi chất lượng các bài kiểm tra thường xuyên, định kì; ..... nhằm phân loại học sinh theo năng lực. Đặc biệt chú ý đến các học sinh yếu kém, nhà xa, hoàn cảnh khó khăn. Đây là các học sinh có nguy cơ bỏ học cao nhất cần phải có sự quan tâm định hướng.Thông qua các hoạt động hướng nghiệp,các tiết sinh hoạt lớp;... phân luồng học sinh theo năng lực, sở trường và nhu cầu xã hội, qua đó định hướng nghề nghiệp cho các em khi nghỉ học trong nhà trường.

- Phối hợp chặt chẽ với giáo viên bộ môn, cán bộ công nhân viên và các đoàn thể trong nhà trường đối với công tác quản lí và giáo dục học sinh, thường xuyên kiểm tra giám sát sự chuyên cần của học sinh, đặc biệt là đối tượng học sinh yếu và học sinh cá biệt để có biện pháp phối hợp giáo dục, giúp đỡ. Học sinh chỉ cần vắng mặt một buổi học không lí do là giáo viên chủ nhiệm liên lạc với gia đình để tìm hiểu nguyên nhân và phối hợp giáo dục.

- Khi trong lớp có học sinh có biểu hiện không muốn tiếp tục đi học thì GVCN thực hiện các công việc sau:

+ Tìm hiểu nguyên nhân, phân tích điều kiện hoàn cảnh của học sinh để có các biện pháp tác động đúng hướng.

+ Phối hợp với các tổ chức, đoàn thể, CMHS cũng như các bạn bè của học sinh đó để vận động học sinh khắc phục các khó khăn tiếp tục đến trường.

+ Với từng trường hợp cụ thể GVCN đưa ra giải pháp, bàn bạc trong giao ban CN để nhận được các ý kiến góp ý của tập thể GVCN của nhà trường.

+ Khi các điều kiện trên đã được thực hiện nhưng học sinh vẫn không thể tiếp tục đi học thì GVCN phải giới thiệu các hướng đi tiếp theo, chẳng hạn: Học bổ túc, vừa học vừa làm, học nghề,...

+ Nhà trường sẽ liên hệ với các trung tâm dạy nghề để liên hệ giới thiệu học sinh xuống học nghề mà học sinh đó yêu thích. Cho PHHS làm đơn rút hồ sơ, đồng thời lấy giấy giới thiệu cho học sinh đó đi học nghề.

+ Văn thư nhà trường sẽ lưu lại toàn bộ các hồ sơ các trường hợp học sinh nghỉ học và sự tư vấn định hướng nghề nghiệp, phân luồng của GVCN; Kết quả này sẽ được công bố vào các đợt sơ kết, tổng kết của phong trào thi đua.

2.4. Tăng cường phối hợp giữa nhà trường với các tổ chức đoàn thể trong nhà trường và phụ huynh học sinh

- Phối hợp với Công đoàn nhà trường tiếp tục thực hiện các phong trào nhằm hỗ trợ cả về vật chất lẫn tình thần cho các học sinh có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong học tập nhằm "Tiếp bước các em đến trường" ví dụ như phong trào: “Cùng em tiếp bước đến trường” để trao tặng học bổng cho học sinh.

- Phối hợp với Đoàn thanh niên nhà trường thực hiện các phong trào như: Phong trào Hoa điểm 10; Vượt khó học tập; Xây dựng “Vườn rau thanh niên”; quyên góp sách vở cũ, sách đọc thêm, máy tính bỏ túi cũ; giáo dục kĩ năng sống, thực hiện pháp luật, ATGT, …

- Phối hợp với Hội khuyến học vận động các doanh nghiệp và các tổ chức đứng chân trên địa bàn thực hiện công tác khuyến học, khuyến tài để khen thưởng động viên kịp thời các em học sinh thuộc diện hộ nghèo, học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, học sinh gặp nhiều khó khăn trong học tập…

- Phối hợp với Ban đại diện CMHS của trường, Ban đại diện CMHS của từng lớp thường xuyên thăm hỏi, nắm bắt tình hình, động viên, giúp đỡ các em có hoàn cảnh khó khăn, tới nhà HS động viên các em có nguy cơ bỏ học tiếp tục đến trường. Phối hợp với gia đình học sinh kiểm tra việc đi học, tỉ lệ chuyên cần của các em, sử dụng các biện pháp giáo dục tích cực, biện pháp vận động phù hợp đưa các em tiếp tục đến trường, giúp các em tự tin và có tư tưởng, thái độ tốt hơn trong học tập. Gửi tin nhắn thông báo tình hình học tập của học sinh về cho phụ huynh hằng tuần, qua đó GVCN phối hợp với phụ huynh nhắc nhở, uốn nắn những học sinh hay vi phạm chấp hành nội quy trường lớp. Họp PHHS định kì vào giữa, cuối học kì 1, học kì 2 để phối hợp giáo dục học sinh. Khi có việc cần trao đổi, phối hợp với PH thì GVCN có thể mời họp đột xuất.

GVCN phối hợp với GVBM nắm bắt kết quả học tập, ý thức của học sinh, từ đó thông báo tình hình học tập của học sinh tại trường về cho gia đình vào mỗi cuối tháng và phối hợp với gia đình giáo dục học sinh tiến bộ trong học tập.

V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Thời gian thực hiện:

- Đợt 1: Từ 10/10/2017 đến 15/1/2017; Tổ chức sơ kết trong tháng 01.

- Đợt 2: Từ16/01/2018 đến 31/5/2018; Tổ chức tổng kết vào tháng 6.

2. Thi đua khen thưởng:

- Phát động phong trào thi đua chuyên đề trong đội ngũ giáo viên chủ nhiệm.

- Trong các đợt sơ kết, tổng kết của phong trào thi đua các lớp có tỉ lệ học sinh bỏ học bằng hoặc thấp hơn chỉ tiêu trường đăng kí (dưới 1%), GVCN có các giải pháp hay, sáng tạo, thiết thực, ... sẽ được xét khen thưởng theo quy định hiện hành; Riêng các lớp 12A1, 11A1, 10A1, 10A4, 10A7 không được có học sinh bỏ học.

- Nhà trường sẽ gắn công tác duy trì sĩ số với công tác thi đua của GVCN để làm cơ sở bình xét thi đua của GV trong năm học.

Trên đây là kế hoạch và các biện pháp thực hiện hưởng ứng phong trào thi đua chuyên đề "Duy trì sĩ số học sinh" năm học 2017 - 2018 nhằm hạn chế tối đa tình trạng học sinh bỏ học trong thời gian tới của Trường THPT Trường Chinh.

Nơi nhận:                                                                                               HIỆU TRƯỞNG

  • Sở GD (báo cáo);
  • BGH, Tổ CM;                                                                                 Nguyễn Thị Huệ
  • GVCN;
  • Lưu văn thư.
  • Lưu Văn thư.

 

                               

 

 

 

                                                                     

Bài tin liên quan
Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 15
Hôm qua : 220
Tháng 12 : 2.034
Năm 2019 : 42.297